Phúc–Lộc–Thọ Các cụ là ai ?

Monday, January 24, 2011
Dương Duy Ngữ
(Ảnh st)

Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.

Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…

Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.

Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.

Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ nhiên phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du.

Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…

Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.

Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc.

Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?

Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua.

Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy-âm-để-dưỡng-dương.

Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.

Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?

Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội. Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?

Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.

Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi.

Mồng một tết cha…

Thursday, January 20, 2011


photo
(Minh họa: Nguyễn Chơn Hiền)

“Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”. Đối với thời nay, câu nói ấy thật vừa cổ, vừa kim. Nó cổ, vì nó là câu tục ngữ đã xa xưa lắm; và nó kim vì nó đang cần cho xã hội ngày nay khi người ta đang cố tìm một phương thuốc chữa căn bệnh “bạc tình” trong các gia đình và ngoài xã hội.

“Tết” ở đây nên được hiểu là những công việc mà con cái và học trò dành cho cha mẹ và thầy đồ trong dịp đầu năm mới để tỏ lòng hiếu kính và biết ơn. Những công việc đó, thông thường gồm có: mừng tuổi, chúc Tết, tặng quà…
“Mừng tuổi” là chúc mừng sự tăng thêm tuổi thọ. Vì cha mẹ còn sống thì con cái còn được nhờ, trái lại là điều bất hạnh: “Mẹ già như chuối chín cây/Gió đưa mẹ rụng còn rày mồ côi”, “Còn cha gót đỏ như son/Một mai cha chết, gót con đen sì” (Ca dao)… Thầy học và lớp người tiền bối còn mạnh khỏe, thì đó là những cây đại thụ, những cây cao bóng cả che bóng mát cho đàn hậu thế quây quần.
Con cái luôn có bổn phận phụng dưỡng cha mẹ già. Quà tặng cha mẹ nhân ngày Tết (kèm theo lời chúc tụng, ly rượu mừng Xuân) là phong bao lì xì cho các cụ mừng, vì tâm lý người già cũng hồn nhiên, như người ta vẫn nói: “Già trẻ bằng nhau”.
Con cái phải biết rằng không có quà tặng nào làm cho các cụ mừng bằng sự đoàn viên, sum họp gia đình trong ba ngày Tết. Ba ngày Tết mà con cái ở một nơi, cha mẹ một nơi, chỉ làm cho các cụ buồn, thương tủi sự cô đơn của mình. Chỉ trừ thời chiến tranh, con ở chiến trường xa, mẹ ở quê nhà, mẹ lấy buồn làm vui mà chờ đợi ngày thắng trận con về.
Hồi xưa, thầy đồ không ăn lương của quan trên cấp mà cũng không nhận học phí từ phụ huynh học sinh (PHHS). Quanh năm, áo vạt hò guốc mộc, cơm canh trà rượu của thầy đồ, một mình bà đồ “chân nam đá chân chiêu” lo lấy. Nay Tết đến, học trò góp phần lo cùng bà đồ. Học trò, ai có món gì mang đi biếu thầy đồ món đó, gọi là “đi Tết thầy”.
Đi Tết thầy, thường thì cân nếp, gói trà, chai rượu… Lớp học của thầy đồ chừng dăm bảy đứa học trò mặt mày khôi ngô tuấn tú ở trong làng, cho nên lễ vật “đi Tết” cũng không lấy đâu cho nhiều. Tết của thầy đồ vẫn là Tết đạm bạc. Điều mà thầy đồ mừng nhất là được nhìn thấy học trò thêm khôn lớn, học với thầy mở mang trí tuệ, được nghe học trò thưa với thầy lời hứa “nấu sử sôi kinh” nhân đầu năm mới.
Trong ba ngày Tết, ngày mồng một dành cho cha, mồng hai dành cho mẹ, vì theo quan niệm xưa, cha sinh mẹ dưỡng, cả hai đều là “đức Cù lao”, mà cha là chủ gia đình, mẹ là người nội trợ, nội tướng. Mồng ba dành cho thầy, vì cha mẹ vẫn khuyên con: “Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy/Gắng công học tập cho tày người ta/Học thời như gấm thêu hoa/Mai sau hiển đạt ấy là con ngoan” (Ca dao).
Tổ tiên “lên lịch” dành 3 ngày trọng đại nhất trong năm cho cha mẹ và thầy là có ý răn dạy ta rằng đạo lớn nhất là đạo hiếu thảo, đừng có thói vô ơn, bạc nghĩa đối với các bậc sinh thành, dưỡng dục và đào tạo giáo dục ta; không có công ơn ấy không ai sinh ra ta, nuôi ta khôn lớn, dạy ta thành người tài ba, người hữu ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Nay nhìn vào xung quanh ta, nhiều cụ ông, cụ bà sống sức tàn, hơi tận trong cảnh neo đơn, vì con cái đi làm ăn xa, lập gia đình riêng, bận việc kiếm sống hoặc bận việc làm giàu, không còn thời gian đâu nghĩ tưởng nhiều đến cha mẹ. Thậm chí có đứa không có lòng hiếu thảo! Ngày nay trong nhà trường, có ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11) để PHHS và học sinh đi chúc mừng thầy - cô giáo (nhiều PHHS chúc mừng rất kỹ và cũng tặng quà rất kỹ các thầy - cô).
Nhưng đó vẫn là hình thức, chưa kể những trường hợp tiêu cực, nó không vui, không ấn tượng bằng hình thức “đi Tết thầy” của hồi xưa. Hồi xưa, cắp sách đến trường làng, rồi trường tổng, trường huyện, học sinh chúng tôi đối với thầy bao giờ cũng giữ thái độ “kính nhi viễn chi” (kính mà không dám gần), tìm thấy ở thầy bao điều mô phạm, “khuôn vàng thước ngọc” cho mình noi theo...
(Theo HUỲNH KIM BỬU - Báo Bình Định)

asdfa

asdfasd